Giải thích Chính sách Nới Lỏng Tiền Tệ (Quantitative Easing - QE): Công cụ của Ngân Hàng Trung Ương để Thúc Đẩy Tăng Trưởng (Phần 1)

11/01/2024 10:55 AM +07:00

GIẢI THÍCH VỀ CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ (QUANTITATIVE EASING - QE): CÁC ĐIỂM CHÍNH

  • Với lãi suất gần bằng không, Cục Dự trữ Liên bang đã mạo hiểm với một công cụ chính sách khác trong chính sách nới lỏng tiền tệ 

  • Sau nhiều năm triển khai QE, Ngân hàng của Nhật Bản đã trải qua sự suy giảm của sự trở lại kinh tế và tài chính 

  • Tương tự, Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (ECB) đã tham gia vào các hoạt động tái tài chính dài hạn (LTROs) như một hình thức nới lỏng tiền tệ, nhưng hiệu quả của chúng vẫn đang được đặt ra câu hỏi. 

Quantitative Easing Qe Explained Central Bank Tool for Growth Part 1 Pipscollector

QUÁ TRÌNH NỚI LỎNG TIỀN TỆ HOẠT ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO? 

Pipscollector.com - Nới lỏng tiền tệ (được gọi là 'QE') là một công cụ chính sách tiền tệ thường được sử dụng bởi các ngân hàng trung ương để kích thích nền kinh tế nội địa của họ khi các phương pháp truyền thống khác đã được thực hiện nhưng không đem lại hiệu quả. Ngân hàng trung ương mua chứng khoán - thường là trái phiếu chính phủ - từ các ngân hàng thành viên của nó, làm tăng cung tiền tệ trong nền kinh tế.

Với sự gia tăng tiền tệ này này, chi phí vay tiền giảm đi, làm cho chi phí vay tiền để mở rộng kinh doanh trở nên rẻ hơn. Điều này có tác động tương tự như việc cắt giảm lãi suất ngắn hạn tiêu chuẩn mà các ngân hàng trung ương thường sử dụng; nhưng tùy thuộc vào những gì họ mua, những nỗ lực như vậy có thể làm giảm chi phí cho các khoản vay kéo dài đáng kể. Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc cho vay mua nhà, mua ô tô và cho doanh nghiệp nhỏ.

CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG HOA KỲ (FED)

Là ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ, Cục Dự trữ Liên bang có trách nhiệm cung cấp cho quốc gia một hệ thống tiền tệ và tài chính an toàn, linh hoạt và ổn định hơn. Điều này thường được rút gọn thành một nhiệm vụ kép được nêu là duy trì lạm phát ổn định và thấp đối với việc làm. Để đạt được các mục tiêu này, Fed được giao một loạt công cụ chính sách tiền tệ cho phép nó ảnh hưởng đến Đô la Mỹ và cung tiền tệ trong nước. Trong khi tăng và giảm lãi suất Federal Funds là công cụ rộng rãi nhất được biết đến, Bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương đã trở thành một phần quan trọng và được quan tâm đến nhiều hơn bởi các nhà đầu tư. 

Tổng tài sản của FED qua các năm

Đơn giản, Bảng cân đối kế toán của Fed tương tự như bất kỳ Bảng cân đối kế toán nào khác. Trong trường hợp của Fed, nó ghi nhận việc thu thập các tài sản và nợ riêng biệt trên tất cả các chi nhánh của Ngân hàng Trung Ương Liên bang. Ngân hàng có thể sử dụng những tài sản và nợ này như một công cụ chính sách tiền tệ không thông thường hoặc bổ sung, đặc biệt khi lãi suất đã rất thấp và mang lại tiềm năng hạn chế với các nỗ lực chính sách tiếp theo.

Năm 2008, khi nền kinh tế Hoa Kỳ bắt đầu suy thoái trong bối cảnh Cuộc khủng hoảng Tài chính Lớn, Cục Dự trữ Liên bang đã thông báo một loạt các đợt cắt giảm lãi suất. Như một công cụ mở rộng điển hình, các đợt cắt giảm được thiết kế để kích thích tiêu dùng, từ đó cải thiện nền kinh tế. Tuy nhiên, ngay cả khi lãi suất gần bằng không, sự phục hồi kinh tế không thể đạt được.

Sau đó, vào tháng 11 năm 2008, Cục Dự trữ Liên bang thông báo vòng đầu tiên của Chính sách Nới Lỏng Tiền Tệ, phổ biến được gọi là QE1. Thông báo này đã thấy Fed chuyển đổi mạnh mẽ các hoạt động thị trường tiêu chuẩn của nó khi bắt đầu mua số lượng lớn các hóa đơn chính phủ, giấy nợ và trái phiếu, cùng với các giấy tờ chứng khoán và trái phiếu thế chấp có chất lượng cao. Những giao dịch mua bán này đã tăng cung tiền tệ trong nền kinh tế Mỹ và làm cho việc tiếp cận vốn trở nên rẻ hơn. Chương trình mua bán kéo dài từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 3 năm 2010 và đi kèm với một đợt cắt giảm lãi suất Fed Funds khác, dẫn đến một mức lãi suất mới trong khoảng từ 0 đến 0,25%.

SỰ THAY ĐỔI TRONG BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CỦA FED DO CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ 

Với lãi suất Federal Funds gần bằng 0 và không muốn thử nghiệm lãi suất âm vào thời điểm đó, ngân hàng trung ương đã hiệu quả tiêu tốn tất cả các công cụ chính sách tiền tệ mở rộng của mình. Do đó, chính sách nới lỏng tiền tệ đã trở thành một phần quan trọng của hòm công cụ của ngân hàng trung ương để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cứu vớt nền kinh tế Hoa Kỳ đang bị lật úp.

Để hỗ trợ phục hồi hơn, Fed đã tiến hành các vòng Nới Lỏng Tiền Tệ tiếp theo, hiện được biết đến là QE2 từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 và QE3 từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013. Các chương trình mua bán nhắm vào các tài sản tương tự và đã giúp duy trì tăng trưởng được xem là tốt - cũng như thị trường vốn là một tác dụng phụ - tại Hoa Kỳ cho đến khi ngân hàng trung ương cuối cùng đã thay đổi hướng đi bằng cách tăng lãi suất tham chiếu lần đầu tiên vào tháng 12 năm 2015.

Sau khi đã bắt đầu giảm Bảng cân đối kế toán của mình vào năm 2018, chúng ta đã thấy cuộc tranh luận về một Chính sách Nới Lỏng Tiền Tệ bền vững (giảm Bảng cân đối kế toán) nảy lên vào năm 2019. Nhiều quan chức của Cục Dự trữ Liên bang đã ủng hộ việc rút tiền từ Bảng cân đối kế toán của ngân hàng một cách chậm rãi và đã bênh vực việc tiếp tục điều chỉnh khi nền kinh tế Hoa Kỳ trải qua hơn một thập kỷ mở rộng kinh tế. Tuy nhiên, tăng trưởng không đều và các rủi ro ngoại vi như chiến tranh thương mại đã làm phức tạp vấn đề về sự hỗ trợ đặc biệt này.

CHÍNH SÁCH NỚI LỎNG TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHẬT BẢN (BOJ) 

Ngân hàng trung ương của Nhật Bản là một cơ quan tài chính khác đã áp dụng việc sử dụng nới lỏng tiền tệ, nhưng với mức độ thành công khác nhau. Một trong những trường hợp đầu tiên xảy ra từ tháng 10 năm 1997 đến tháng 10 năm 1998 khi BOJ mua hàng tỷ Yên trái phiếu thương mại nhằm giúp các ngân hàng trong giai đoạn tăng trưởng kém, lãi suất thấp và vấn đề từ các khoản nợ xấu của ngân hàng. Tuy nhiên, tăng trưởng vẫn được kìm hãm.

Trước sự tác động không hiệu quả, Ngân hàng Trung ương của Nhật Bản tăng mua sắm tài sản giữa tháng 3 năm 2001 và tháng 12 năm 2004. Vòng đợt mua này nhắm vào trái phiếu chính phủ dài hạn và tiêm vào 35,5 nghìn tỷ Yên vào ngân hàng Nhật Bản. Mua sắm này đã có hiệu quả một cách có hạn, việc mua sắm trái phiếu chính phủ dài hạn đã làm giảm tỷ lệ thu hút vốn và khi Cuộc khủng hoảng Tài chính Lớn bắt đầu, tăng trưởng của Nhật Bản lại mất đi một lần nữa. Kể từ đó, Ngân hàng Trung ương của Nhật Bản đã tiến hành nhiều vòng đợt nối lỏng tiền tệ và nới lỏng tiền tệ chất lượng (QQE) tất cả đều không hiệu quả lớn trong bối cảnh nền kinh tế phát triển chậm mà không thể tránh được môi trường lãi suất âm. 

Ngày nay, Ngân hàng Trung ương của Nhật Bản đã mở rộng sang các hình thức mua sắm tài sản khác nhau với mức độ chất lượng khác nhau. Cùng với việc mua sắm trái phiếu thương mại trước đó, ngân hàng đã sở hữu một lượng lớn thị trường quỹ giao dịch của đất nước (ETF) và các quỹ đầu tư bất động sản Nhật Bản hoặc J-REITs. 

BOJ bắt đầu mua sắm ETF vào năm 2010 và tính đến quý 2 năm 2018, họ sở hữu khoảng 70% tổng thị trường ETF Nhật Bản. Hơn nữa, các giao dịch mua sắm rộng lớn này đã làm cho ngân hàng trung ương trở thành cổ đông đa số của hơn 40% tổng số công ty Nhật Bản theo Bloomberg. Do đó, chất lượng và xếp hạng tín dụng của những khoản nắm giữ này của ngân hàng trung ương yếu hơn về cơ bản so với các tài sản được phát hành bởi chính phủ như Trái phiếu Chính phủ Nhật Bản (JGBs) và khác biệt đáng kể so với việc nắm giữ của Cục Dự trữ Liên bang. 

Đọc thêm các bài viết tại chuyên mục Nội dung giáo dục để cập nhật các kiến thức forex mới nhất từ Pipscollector.

- Pipscollector -

 

Chia sẻ
  • Copied
banner Educations Content
logo image

Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Thông tin và tín hiệu được cung cấp trên Pipscollector, một trang web về tín hiệu bán chứng khoán và ngoại hối, chỉ dành cho mục đích giáo dục và thông tin. Giao dịch cổ phiếu và ngoại hối liên quan đến rủi ro tài chính đáng kể và điều quan trọng là phải hiểu rằng hiệu suất trong quá khứ không phải là dấu hiệu cho thấy kết quả trong tương lai. Pipscollector không đảm bảo tính chính xác, đầy đủ hoặc độ tin cậy của thông tin và tín hiệu được cung cấp.